Tagged in: việt nam

Các nhà khoa học Việt Nam được vinh danh tại Hoa Kỳ

Nhiều nhà khoa học Việt Nam sinh sống và làm việc ở Mỹ đã đạt được những thành tựu khoa học to lớn và nhận được những danh dự quốc tế.

Vũ Hà Văn, Giáo sư Toán tại Đại học Yale

Cha của Văn là một nhà thơ và mẹ là dược sĩ. Văn, sinh năm 1970, đã say mê khoa học tự nhiên kể từ khi còn là một cậu học trò. Sau đó, anh đứng thứ hai trong kỳ thi tuyển vào Đại học Bách khoa Hà Nội và nhận học bổng chuyên ngành điện tử ở Hungary. Một năm sau, ông chuyển sang học toán và lấy bằng cử nhân về toán vào năm 1994.

Ông đã lấy bằng tiến sĩ toán học từ Đại học Yale năm 1998. Sau một thời gian nghiên cứu tiến sỹ tại IAS của Princeton và làm việc cho ông trùm phần mềm công nghệ Microsoft, ông làm việc cho Đại học California từ năm 2001 đến năm 2005 với tư cách là trợ lý giáo sư, phó giáo sư và sau đó giáo sư chính thức.

Năm 2005, Vũ Hà Văn phụ trách giảng dạy bộ môn toán Đại học Rutgers. Từ năm 2011, ông chuyển sang làm giáo sư của Đại học Yale- nơi ông từng nghiên cứu tiến sĩ. Ông cũng là người thính giảng của Đại học Paris.

Mặc dù sinh sống và làm việc ở Mỹ, nhưng ông Văn giữ quốc tịch Việt Nam và thường trở về Việt Nam, nơi ông giảng dạy toán tại Đại học Quốc gia Hà Nội.

Lưu Lệ Hằng, giáo sư Vật lý thiên văn

Giáo sư Lưu Lệ Hằng, Cô sinh năm 1963, sau năm 1975 cô theo gia đình di cư sang Hoa Kỳ để sinh sống.

Năm 1992, sau nhiều nỗ lực, Lưu Lệ Hằng, cùng với nhóm nghiên cứu của mình và giáo viên David Jewitt, đã khám phá ra dải Kuiper với 70.000 thiên thạch. Điều này đặt ra một nền tảng mới cho việc giải thích và chứng minh sự hình thành của hệ mặt trời.

Nhờ nghiên cứu về dải Kuiper, cô và đồng nghiệp đã nhận được phần thưởng Kavli từ Na Uy, giải thưởng này được xem là một giải Nobel về vật lý thiên văn.

Năm 2012, Hằng đã nhận được giải thưởng Shaw, cũng được được coi là giải Nobel về thiên văn học

Năm 1994, Lưu Lệ Hằng làm giảng viên môn vật lý thiên văn tại Đại học Harvard và sau đó cô tiếp tục giấc mơ khám phá vũ trụ với tư cách là một nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Lincoln – Học viện Massachusetts.

Phan Minh Liêm, Bác sĩ y khoa, nổi tiếng về nghiên cứu ung thư

Một chàng trai trẻ đến từ tỉnh Khánh Hoà, Việt Nam, sinh năm 1983, là người Việt Nam đầu tiên được Viện Anderson, một bệnh viện ung thư hàng đầu ở Mỹ, bốn lần vinh danh.

Phan Minh Liêm đã ấp ủ dự định và ước mơ nghiên cứu về bệnh ung thư khi còn là sinh viên của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM. Sau khi tốt nghiệp trường năm 2005, Liêm đã giành được suất học bổng nghiên cứu tại Mỹ.

Các đồng nghiệp do Phan Minh Liêm dẫn dắt đã phát hiện ra một gen có thể khống chế và tiêu diệt quá trình tạo ra năng lượng của các tế bào gây ung thư. Khi gen này được kích hoạt, các tế bào ung thư sẽ không thể nhận được dinh dưỡng, hoặc chúng có thể có dinh dưỡng nhưng không thể chuyển thành năng lượng.Nghiên cứu này đã mang lại một tín hiệu đáng mừng cho những bệnh nhân ung thư.

Đầu Bếp Việt Nam Nổi Tiếng Trên Toàn Thế Giới

Những món ăn ngon được chế biến từ đầu bếp tài tình. Với tài năng và niềm đam mê của mình, họ có thể tạo thương hiệu riêng của mình trên thế giới và đóng một vai trò quan trọng để phát triển và quảng bá ẩm thực Việt Nam cho bạn bè quốc tế.

       1.Dương Huy Khải

Bắt đầu từ con số không, với tất cả niềm đam mê về ẩm thực, Dương Huy Khải học tập và hoàn thành thành công tại Cordon Bleu Academie, một ngôi trường nổi tiếng về nghệ thuật ẩm thực nước Pháp. Sau đó, ông làm việc trong các nhà hàng khác nhau tại các khách sạn 4-5 sao nổi tiếng ở Floria, Hawaii (Hoa Kỳ). Vào tháng 6 năm 2012, tại cuộc thi vua đầu bếp quốc tế lần thứ nhất tại Bắc Kinh, anh đã vượt trội hơn 200 đầu bếp của 30 quốc gia trên thế giới để đạt huy chương vàng với món súp làm từ tổ yến Khánh Hòa – quê hương ông.

Dương Huy Khải sở hữu và điều hành nhà hàng sang trọng Ana Mandara – nơi thường xuyên có sự xuất hiện của các nghệ sỹ nổi tiếng tại Hollywood như Sean Penn, Will Smith, Sharon Stone và tỷ phú Lary Ellison, ông cũng là đầu bếp gốc Việt đầu tiên được vinh danh với ngai vàng cùng danh hiệu vua đầu bếp. Tên của người đầu bếp danh tiếng này đã được gắn ngôi sao trên Đại lộ danh vọng Cordon Bleu ở nước Pháp. Ông cũng đã vận động thành lập và trở thành chủ tịch Hiệp hội đầu bếp Châu Á và Hội đầu bếp xuyên lục địa.

  1. Michale Bảo Huỳnh

Ông không chỉ là một trong những đầu bếp tài năng và thành công nhất tại Mỹ mà còn là chủ của chuỗi nhà hàng: chuỗi cửa hàng bánh mì Baguette, nhà hàng OBao, nhà hàng Phở Sure, nhà hàng Burger, nhà hàng Bảo Thị trường, nhà hàng Bảo 111, nhà hàng Mai House, nhà hàng Barbao, vv Trong khi đó, ông là giảng viên tại Viện Ẩm thực Hoa Kỳ. Ông là đầu bếp Việt Nam đầu tiên được công nhận là đầu bếp hàng đầu của Hoa Kỳ tại tạp chí New York Times vào năm 2003.

Hệ thống nhà hàng của Bảo Huỳnh tại Mỹ  thường xuyên được tổ chức các buổi trao đổi kinh nghiệm về ẩm thực của các đầu bếp nổi tiếng thế giới như Mick Jagger, Usher, Rachel Weisz, Marcosp Rodriguez, Naomi Capbell hay Petra Nemcova, v.v ….

       3.Luke Nguyễn

Là một đầu bếp người Úc gốc Việt, Luke Nguyễn đã quen thuộc với khán giả Việt Nam với tư cách là một người cầm cân nảy mực của cuộc thi Master Chef Vietnam ( Vua đầu bếp Việt Nam). Luke Nguyễn cũng làm rạng danh tên tuổi của mình trong giới ẩm thực với hệ thống nhà hàng Việt Nam – Red Lantern tại Surry Hills, Sydney.

Ngoài ra, Luke Nguyễn còn là tác giả của những cuốn sách hay về ẩm thực và là người dẫn chương trình của phim Luke Nguyễn, một hành trình giới thiệu về món ăn truyền thống Việt Nam và cách thưởng thức những nét ẩm thực độc đáo này.

      4.Trần Văn Hải

Đến với Đức dưới hình thức hợp tác lao động, làm việc để tiết kiệm tiền, Trần Văn Hải mở nhà hàng Kabuki nổi tiếng với ẩm thực Nhật Bản, đặc biệt là sushi. Với chuyên môn và những phong cách ẩm thực độc đáo, tên của ông đã được vang vọng khắp Berlin. Ông cũng xuất hiện trong 10 trang của cuốn sách “Berlin Kocht”, đã tiết lộ những lời khuyên nấu ăn từ các đầu bếp hàng đầu ở Berlin.

Mặc dù chuyên về các món ăn Nhật Bản, ông luôn giới thiệu nền văn hoá ẩm thực Việt Nam cho người phương Tây. Anh ấy rất thân thiện, dễ dàng, hóm hỉnh nhưng cũng rất nổi tiếng như tên tuổi của anh ấy.

 

Những đạo diễn phim đời sống đến từ Việt Nam

Mặc dù ngành công nghiệp điện ảnh của Việt Nam là một người khởi đầu muộn, đất nước này lại sản sinh ra một số đạo diễn tài năng trong thời hiện đại. Đây là năm trong số họ.

Các đạo diễn dưới đây được gọi là “Việt Kiều”, có nghĩa là “Người Việt Nam ở nước ngoài”, một thuật ngữ thường được sử dụng để mô tả những người rời đất nước để sinh sống và làm việc tại nước ngoài.

Đặng Nhật Minh

Đặng Nhật Minh, người sinh ra ở Huế năm 1938, được coi là một trong những đạo diễn phim hàng đầu của Việt Nam. Sau khi dành kế hoạch đi theo con đường sự nghiệp của cha mình và trở thành một bác sĩ, ông bắt đầu làm phim tài liệu vào năm 1965, trong Chiến tranh Việt Nam, và chuyển thể vào các bộ phim năm 1975.

Minh đến Pháp để học điện ảnh năm 1985. Những bộ phim về những gì ông được chứng kiến đã ảnh hưởng đến ông rất nhiều, và ông được trích dẫn khi nói rằng họ “hãy cho tôi thực phẩm để suy nghĩa về tương lại trong sự nghiệp làm phim, làm tôi suy nghĩ lại những đặc điểm và truyền thống của Việt Nam”. Anh trở về Việt Nam năm đó để làm bộ phim When the Tenth Month Comes (Bao Giờ Cho Đến Tháng Mười).

Nhiều bộ phim của Hùng lấy bối cảnh tại các làng nông nghiệp, phù hợp với mong muốn miêu tả cuộc sống của các ao làng tại nông thôn Việt Nam và cuộc sống của họ khác với những người giàu có. Các bộ phim của Hùng đã phát triển theo một hướng quốc tế kéo theo sự miêu tả sắc thái của họ về các vấn đề xã hội.

Năm 1999, ông trở thành người đầu tiên đến từ Việt Nam được giới thiệu về Giải Nobel Văn hoá Châu Á.

Trần Anh Hùng

Trần Anh Hùng được coi là người tiên phong của điện ảnh Việt Kiều. Sinh ra ở Đà Nẵng, mảnh đất miền Trung Việt Nam, năm 1962, ông là một đạo diễn phim người Pháp gốc Việt. Lần đầu tiên ông chuyển tới Pháp khi ông 12 tuổi là năm 1975.

Những thiền định về cuộc sống của Hùng ở Việt Nam đã được hoan nghênh khắp thế giới. Bộ phim đầu tiên của anh, The Scent of the Green Papaya – Mùi Đu Dủ xanh (1993), lấy bối cảnh ở Việt Nam mặc dù hoàn toàn được đóng máy trên một sân khấu âm thanh ở Boulogne, Pháp.

Nó kể về câu chuyện của Mùi, một người hầu cho một gia đình giàu có, và được trình chiếu vào năm 1951. Mùi được giải nghĩa như là hiện thân của Việt Nam thời kỳ trước chiến tranh, và được miêu tả như là hòa bình, sự bình tĩnh, và tò mò về thế giới. Nó đã giành được giải Camera d’Or tại Liên hoan Phim Cannes năm 1993 và trở thành bộ phim Việt Nam đầu tiên được đề cử giải Oscar năm 1994.

Bộ phim tiếp theo của Hùng, Cycle (1995), có một nhân vật chính vô tội tương tự, nhưng lần này câu chuyện lại bạo lực hơn và anh hùng trẻ tuổi bị các băng nhóm tham nhũng lôi kéo bởi mong muốn thoát nghèo. Cyclo đặc biệt đã nhận được sự hoan nghênh của bạn bè quốc tế, đoạt giải Sư tử Vàng tại liên hoan phim Venice.

Bộ phim cuối cùng trong bộ phim “Bộ ba thảm kịch Việt Nam” của Hùng là The Vertical Ray of the Sun (2000). Nó tập trung vào ba chị em sống ở Hà Nội và là một cái nhìn nhẹ nhàng, chậm rãi trong một tháng trong cuộc sống gia đình phức tạp của họ.

Tony Bùi

Tony Bùi sinh ra ở Việt Nam vào năm 1973. Anh rời khỏi Việt Nam cùng fia đình khi mới vừa lên hai. Anh sinh sống và làm việc tại California, và đã đến Việt Nam nhiều lần trước khi thực hiện bộ phim ngắn đầu tiên của mình, Yellow Lotus -Bông Sen Vàng (1995), đã giành được một loạt các giải thưởng trong nước và quốc tế.

Bui’s Three Seasons- Ba mùa của Bùi (1999), bộ phim Mỹ đầu tiên được quay hoàn toàn ở Việt Nam, đã giành giải thưởng Audience Award- bộ phim được khán giả yêu thích và giải Grand Jury tại liên hoan phim Sundance. Nó phản ánh những cảm nghĩ của Bùi về những thay đổi đã diễn ra đối với Việt Nam và người dân Việt Nam theo sự phương Tây hóa.

Bộ phim làm theo ba người ở thành phố Hồ Chí Minh và cho thấy những cách mà những cuộc đời này xen vào nhau. Nhân vật chính đầu tiên là một tay đua tên là Hải, người đã yêu một cô gái mại dâm tên là Lan. Câu chuyện thứ hai là về một cô bé mồ côi, Kiên An, người kết bạn với một nhà thơ với bệnh phong và rất tâm huyết viết bài thơ cho ông.

Câu chuyện thứ ba liên quan đến một chàng trai năm tuổi Woody, người dũng cảm để bán đồ trang trí cho khách du lịch để kiếm tiền cần thiết để tồn tại. Các bộ phim cho thấy sự cam kết của đạo diễn về miêu tả những thành viên bị gạt ra ngoài lề của một xã hội Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng, một điều mà ông đã nhận được sự hoan nghênh rộng rãi.

Võ Minh Nguyên

Không giống như nhiều đạo diễn người Việt, Minh Nguyễn-Võ đã tránh tập trung vào các đề tài chiến tranh trong phim của mình. Khi còn là thanh niên, ông coi điện ảnh là một lối thoát khỏi những đau khổ của cuộc xung đột. “Trong chiến tranh Việt Nam,” ông nhớ lại, “Tôi lớn lên ở một thị trấn nhỏ, nơi gia đình tôi điều hành rạp hát. Tôi có thể lẻn vào và xem phim. Có rất nhiều trận chiến đấu xung quanh thị trấn giữa người Mỹ và Cộng sản. Phim ảnh là sự thoát khỏi sự tàn ác của chiến tranh, và một cửa sổ để mở ra phần còn lại của thế giới. ”

Sinh năm 1956, ông đã trải qua 16 năm làm nhà vật lý tại Đại học California trước khi nghiên cứu điện ảnh ở đó. Nhờ những tác phẩm sử thi của samurai Nhật Bản, những người Mỹ phương Tây, và những bộ phim truyền hình được thực hiện ở Ấn Độ, Nguyễn Võ đã sử dụng những hình ảnh đẹp để chống lại những khía cạnh hãi hùng của cuộc sống.

Ông quay Buffalo Boy- Mục đồng (2004) ở vùng đồng bằng bị ngập lụt của miền Nam Việt Nam.

Ông nói: “Tôi bị ảnh hưởng bởi khí hậu đặc biệt của khu vực này, nơi mà nước bao phủ quanh năm. “Sự sống sót trở nên rất khó khăn, và các gia đình phải gửi trâu ở nơi khác để tìm cỏ. Có một điều kỳ diệu về việc nhìn thấy nước che phủ các vùng đất, sau này trở thành ruộng lúa xanh ngát. “Cảnh quan này là bối cảnh cho một bộ phim gia đình hỗn loạn liên quan đến những cuộc đối đầu giữa những người chăm sóc vật nuôi.

Bộ phim năm 2014 của Nguyễn Võ năm 2030 (Nước) là bộ phim tình cảm khoa học viễn tưởng ở miền Nam Việt Nam, nơi mà phần lớn đất bị ngập do hệ quả của sự nóng lên toàn cầu.

Lưu Huỳnh

Sinh ra ở Thành phố Hồ Chí Minh, Lưu Huynh rời trường lúc 16 tuổi để theo đuổi sự nghiệp làm phim tại Đại học Minnesota. Sau đó, ông chuyển đến California, nơi ông theo học tại Trường Cao Đẳng Nghệ thuật và Thiết kế Nghệ thuật. Ông trở về Việt Nam năm 1994,

Ông lần đầu tiên làm đạo diễn cho chương trình truyền hình nổi tiếng của Việt Nam – Paris by Night.

Bộ phim The White Silk Dress (Áo lụa Hà Đông) năm 2006 của ông là một trong những phim đắt tiền nhất của Việt Nam từng được thực hiện và thành công nhất của ông. Đại diện cho Việt Nam tại Giải thưởng Học viện lần thứ 80 trong hạng mục Phim tiếng nước ngoài hay nhất và đã giành nhiều giải thưởng danh giá khác. Bộ phim The Legend is Alive – Truyền thuyết là có thật (2009) đã nhận được sáu giải tại liên hoan phim Cánh diều vàng.

 

Cơ hội và thách thức đối với người lao động Việt Nam trong cộng đồng ASEAN

Cộng đồng ASEAN (AC), dự kiến sẽ được thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm nay, sẽ tạo ra một thị trường độc nhất với việc tự do di chuyển vốn, hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và lao động có tay nghề, mang lại cơ hội và thách thức cho người lao động Việt Nam.

Theo báo cáo “Cộng đồng ASEAN: Quản lý hội nhập để tạo công ăn việc làm tốt hơn và chia sẻ sự thịnh vượng” do Tổ chức Lao động Quốc tế và Ngân hàng Phát triển Châu Á thực hiện, AC sẽ có tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 2.2 nghìn tỷ đô la mỗi khi định hình , Thu nhập bình quân đầu người là 3,100 đô la Mỹ / năm, nhưng con số này sẽ thay đổi đáng kể từ 1.000 đô la Mỹ ở Campuchia và Myanmar đến 50.000 đô la Mỹ ở Singapore.

Khoảng cách thu nhập đáng kể có thể dẫn đến việc di cư lao động trong khối ASEAN, mở ra những cơ hội mới cho người lao động có tay nghề nhưng vẫn đặt ra những thách thức đối với những người không có tay nghề.

Thông qua các hiệp ước công nhận lẫn nhau, các nước ASEAN đã cho phép nhân viên làm việc trong 8 ngành nghề (bác sĩ, nha sĩ, y tá, kế toán, khảo sát, kiến trúc sư, kỹ sư và chuyên gia du lịch) để tìm việc làm trong khối các nước ASEAN ngay sau khi AC được thành lập. Họ thuộc nhóm có trình độ cao và có trình độ chuyên môn từ trường đại học, thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh.

Thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) cho thấy nước ta sẽ là một trong những đối tượng hưởng lợi lớn nhất từ sự hình thành của AC. Đến năm 2025 sẽ có khoảng 6 triệu việc làm được cung cấp, chiếm 9,5% tổng số các lựa chọn việc làm mới của ASEAN. Tuy nhiên, chất lượng việc làm không cao và 65% nhân viên mới dễ bị rơi vào tình trạng khó khăn (tỷ lệ cao nhất trong khu vực)

Chất lượng lao động Việt Nam đủ điều kiện ra nước ngoài làm việc đã được cải thiện đáng kể khi tăng từ 30% lên 50% trong vòng mười năm, đáp ứng một số yêu cầu về lao động có tay nghề của thị trường lao động khu vực. Lực lượng lao động có kỹ thuật từng bước làm chủ được công nghệ khoa học mới. Một trong số họ có khả năng đáp ứng yêu cầu các công việc đòi hỏi kỹ năng cao mà trước đây chỉ được thực hiện bởi các chuyên gia nước ngoài. Việt Nam cũng đã tạo điều kiện để lao động trong nước đi làm việc tại các nước ASEAN khác, đặc biệt là Malaysia, hàng năm có hàng ngàn lao động đi xuất khẩu để làm việc trong nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau.

Việt Nam cũng đã tự khẳng định mình là đối thủ cạnh tranh hàng đầu tại các Cuộc thi Kỹ năng về ASEAN, xếp thứ nhất trong ba lần khác nhau trong 10 sự kiện được tổ chức và liên tục nằm trong số ba nước đứng đầu, thể hiện sự sẵn sàng của người dân địa phương tham gia Cộng đồng ASEAN.

Tuy nhiên, nước ta cũng phải đối mặt với một loạt các thách thức. Do nông nghiệp chiếm đa số trong nền kinh tế Việt Nam, tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động chính thức thấp, chỉ chiếm 30%. Thêm vào đó, kiến thức, kỹ năng và sự sẵn sàng làm việc của các nước ASEAN khác đã được coi là không phù hợp để đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập. Hầu như tất cả các công nhân trong lĩnh vực nông nghiệp đều không được đào tạo.

Ngân hàng Thế giới cho biết Việt Nam đang gặp phải tình trạng thiếu lao động có tay nghề và trình độ kỹ thuật trầm trọng và tụt hậu so với các nước phát triển trong khu vực về chất lượng nhân lực. Kiến thức, kỹ năng và sự sẵn sàng làm việc của người lao động địa phương ở các nước ASEAN khác đã được coi là không đầy đủ và không đáp ứng được nhu cầu hiện tại.

Để giải quyết những thách thức trên, chúng ta phải nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của lực lượng lao động Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế, nhất là khi thành lập AC, Việt Nam cần tiếp tục xem xét lại toàn bộ các quy định pháp luật về lao động, việc làm và đào tạo nghề, làm thực hiện các dự báo ngắn hạn và dài hạn, kết nối thị trường lao động trong nước với các đối tác trong cộng đồng ASEAN và tìm kiếm thị trường nước ngoài thích hợp cho người lao động.

Việt Nam nên cải cách cấu trúc giáo dục chuyên nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc gia; Tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng và đổi mới chương trình đào tạo nghề; Kết hợp đào tạo với thị trường lao động và sự tham gia của doanh nghiệp, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dạy nghề.

Các cơ quan nhà nước cần soạn thảo các biện pháp nhằm định hướng và hỗ trợ người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng, ngoại ngữ  và thông tin về các quốc gia họ sẽ làm việc để có thể nhanh chóng hội nhập và bắt nhịp vào xã hội và nơi làm việc tại địa phương.