All posts by rov1199

Tỷ phú dược phẩm người Mỹ gốc Việt xuất hiện trên tạp chí Forbes 400

Mười tháng sau khi Nhà máy Rượu Hoàng Kiều khai trương vào tháng 11 với sự góp mặt của Lý Băng Băng – nữ diễn viên nổi tiếng Trung Quốc, nhà máy rượu Napa đã tổ chức bữa tối ghép cặp rượu đầu tiên tại nhà hàng đẳng cấp Việt Nam Le Colonial ở San Francisco. Bảy mươi mốt tuổi Hoàng Kiều, tỷ phú mới của nhà máy rượu vang, vắng mặt. Con trai của ông Tommy Hoàng đã giải thích với khách hàng rằng doanh nghiệp đã cử ông đến Thượng Hải, và anh rất lấy làm tiếc khi bố anh đã không thể tham gia vào bữa tiệc này.

Hoàng Kiều có một lịch sử lâu dài về “cuộc sống bon chen nơi xứ người”. Bữa tối – tại đó khách ăn mặc trang trọng uống rượu với khuôn mặt Hoàng Kiều được in trên từng chai – tương phản rõ rệt với những năm đầu của Hoàng Kiều ở nông thôn Việt Nam, và những năm đầu tiên của ông tại Hoa Kỳ sau khi nhập cư vào cuối Chiến tranh Việt Nam. Bây giờ, sau khi thành lập hai công ty huyết tương thành công là RAAS và RAAS Thượng Hải, Hoàng Kiều đã lần đầu tiên được xuất hiện trên tạp chí The Forbes 400. Ông xếp hạng 149 với giá trị vốn ròng là 3,8 tỷ đô la – và là người giàu nhất trong danh sách.

Yếu tố làm nên tên tuổi và danh hiệu tỷ phú của Hoàng Kiều là từ cổ phần của ông trong RAAS Thượng Hải- được ông thành lập vào năm 1992, sau khi hợp tác với Trung tâm Huyết học Thượng Hải năm 1987. Với tổng thu nhập 214 triệu đô la Mỹ và đáng chú ý nhất là tổng vốn theo giá trị lên tới 17,7 tỷ đô la Mỹ, Công ty của Hoàng Kiều đứng thứ 20 trong danh sách những công ty sáng tạo nhất của tạp chí Forbes và ông góp mặt trong danh sách 200 tỷ phú giàu nhất Châu Á vào năm 2015. Ông Hoàng Kiều nắm giữ 35% công ty niêm yết tại Shezhen, và sự giàu có của ông đã tăng hơn gấp ba trong năm qua cùng với sự gia tăng giá trị. Phần còn lại của sự giàu có là ở Rare Antibody Antigen Supply- công ty cung cấp kháng nguyên kháng thể hiếm (RAAS) có trụ sở đặt tại California, được thành lập vào năm 1985, và nhà máy rượu ông đã mua và khai trương  năm ngoái.

Hoàng Kiều sinh năm 1944 tại làng Bích Khê, tỉnh Quảng Trị, Việt Nam. Thời thơ ấu của ông đã được trải qua chân trần và thậm chí không có áo sơ mi để mặc, với một cái dao cạo trong tay để chặt những cây nhỏ cho mẹ. “Cuộc sống rất khó khăn trong những năm đó”, Hoàng Kiều nhớ lại. Nó dễ dàng hơn khi ông chuyển đến Sài Gòn khi lên 5 tuổi để sống với chú Hoàng Thi, một nhà soạn nhạc nổi tiếng của Việt Nam. Chú của ông đã giúp ông học hành đến nơi đến chốn, và Hoàng Kiều đã học khoa học tại một trường đại học trong một năm trước khi chiến tranh Việt Nam xảy ra. Sau khi đạt đến độ chín muồi, Hoàng Kiều tham gia vào Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ là “người chỉ huy chiến đấu chính”. Kinh nghiệm đó, ông Hoàng cho biết, đã cho ông sự tự tin để vượt qua nhiều thách thức khác trong cuộc đời – bao gồm xây dựng một nhà máy Thượng Hải RAAS vào đầu những năm 1990 với ít hoặc không có thiết bị cơ khí.

Năm 1975, khi chiến tranh Việt Nam sắp chấm dứt, ông Hoàng di cư sang Hoa Kỳ, sau khi giúp gia đình và những người tị nạn Việt Nam vượt biên. “Tôi đã làm việc với Bộ Nội vụ để có được thị thực cho người dân rời khỏi đất nước,” Hoàng Kiều nhớ lại. Lúc bấy giờ Hoàng Kiều đã 32 tuổi.

Để bắt đầu cuộc sống ở Hoa Kỳ không phải dễ dàng cho gia đình Hoàng Kiều. Khi đến đây, ông nói rằng gia đình được tài trợ bởi Câu lạc bộ Phụ nữ Làng Westlake và Nhà thờ Methodist Church Hoa Kỳ của làng Westlake – một thị trấn ở Nam California gần Los Angeles. Một thành viên nhà thờ làm việc tại Abbott Laboratories ABT + 0,29% đã phỏng vấn Hoàng Kiều cho một công việc tập sự. Trong khi nhận thấy mình không có những kỹ năng cần thiết, Hoàng Kiều đã tự tin nói với người phỏng vấn: “Với trí thông minh của tôi, tôi sẽ có thể học được.” Ông đã nhận công việc (được trả 1,25 đô la một giờ) vào sinh nhật của mình, và bắt đầu làm việc hai ngày sau đó. Ông đã chuyển sang làm việc trên một chiếc xe máy 50cc được tặng. “Chúng tôi đã trải qua và chúng tôi đã có được thành tựu”, Hoàng Kiều nhớ lại.

Trong những năm kế tiếp, Hoàng đã leo lên hàng ngũ cấp cao của Abbott. Ông được thăng chức giám sát sau sáu tháng, và lên chức quản lý sáu tháng sau đó. Cuối cùng, ông đã trở thành quan chức cấp cao của công ty, trở thành giám đốc chịu trách nhiệm thử nghiệm mẫu huyết tương. “Tôi tự hào nói rằng tôi đã nhận được giấy phép đầu tiên của Cục Sinh học [FDA] để thử nghiệm mẫu huyết tương cho các phòng thí nghiệm của Abbott”, ông Hoàng nói. Với sự chấp thuận này, Hoàng Kiều bắt đầu thử nghiệm cho bệnh viêm gan B tại Abbott.

Vào cuối những năm 1970, Hoàng Kiều đã bắt đầu nghĩ đến những bước đi tiếp theo. Lời khuyên tốt nhất mà ông nhận được từ người thầy dày dặn kinh nghiệm đóa là: “ Đừng bán rẻ kiến thức của con”. Tận dụng thế mạnh với kinh nghiệm thử nghiệm huyết tương, Ông đã quyết định thành lập công ty sản xuất huyết tương – Rare Antibody Antigen Supply Inc và ban đầu đạt được thành công với các trung tâm huyết tương. Đến năm 1985, Hoàng Kiều cho biết ông đã có 11 trung tâm lan rộng khắp nước Mỹ.

 

Giáo Sư Người Pháp Gốc Việt Được Tôn Vinh

Chủ tịch nước Cộng hòa Pháp đã ký quyết định trao tặng danh hiệu Chevalier d’Ordre National de la Legion d’Honneur cho giáo sư người Pháp gốc Việt Lê Kim Ngọc, theo thông báo tại lễ khai mạc Trường hè Neutrino Quốc tế 2016 khai mạc  tại tỉnh Bình Định vào ngày 18 tháng 7.

Giải thưởng này là một sự thừa nhận sâu sắc về sự đóng góp nổi bật của bà đối với nền khoa học Pháp. Legion of Honor là một danh hiệu Pháp được Napoleon Bonaparte thành lập vào năm 1802 và là một trong những danh hiệu có uy tín nhất nước Pháp.

Giáo sư Lê Kim Ngọc đã đạt được nhiều thành tựu khoa học, đặc biệt là công trình nghiên cứu “Thin Cell Layer”( các lớp tế bào mỏng).

Cô sinh ra ở tỉnh Vĩnh Long. Giống như chồng, giáo sư Trần Thanh Vân, cô ấy đã sang Pháp học về sinh học phân tử. Với những kỹ năng phi thường về tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Việt, bà đã từng quản lý nhóm thư ký trong các cuộc họp này và cũng giúp chồng tổ chức kế hoạch làm việc cũng như các cuộc họp, phỏng vấn và thăm các nhà khoa học quốc tế.

Hai vợ chồng giáo sư đã thành lập một Hiệp hội tại Pháp để giúp đỡ trẻ em Việt Nam vào năm 1970. Họ đã trở về nước để tổ chức nhiều chương trình trao đổi giữa các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài từ năm 1993.

Năm 1970, hai vợ chồng thành lập Hiệp hội Hỗ trợ Trẻ em Việt Nam tại Pháp và kêu gọi đóng góp của chính phủ Pháp và các tổ chức từ thiện khác ở nhiều nước để thành lập Làng trẻ em SOS ở Việt Nam.

Năm 1993, một tổ chức được đặt tên là “Rencontres du Viet Nam” (Gặp gỡ Việt Nam) do hai đồng tác giả làm đồng chủ tọa đã ra mắt và bắt đầu hoạt động. “Gặp gỡ Việt Nam” là người tổ chức các cuộc hội thảo vật lý có uy tín nhất, Hội nghị Khoa học Vật lý Quốc tế trong nước.

Hai Giáo sư người Pháp gốc Việt Lê Kim Ngọc và Trần Thanh Vân đã được trao tặng Huân chương Hữu nghị có uy tín vào năm 2015 vì những đóng góp to lớn của họ cho sự phát triển khoa học và chăm sóc trẻ em tại Việt Nam.

Chương trình Summer Neutrino Summer 2016 do Bộ Khoa học và Công nghệ và Hiệp hội gặp gỡ Việt Nam đồng tổ chức tại Trung tâm Giáo dục Khoa học Liên ngành Quốc tế (ICISE) tại Quy Nhơn, tỉnh Bình Định từ ngày 18 đến 29 tháng 7 với sự tham gia của Chủ tịch Deborah Harris và Boris Kayser đến từ Phòng thí nghiệm Quốc gia Fermilab.

Chương trình này nhằm vào cả các nhà thực nghiệm và các nhà lý thuyết, sinh viên tốt nghiệp và các tiến sỹ nghiên cứu sớm, và sẽ bao gồm đầy đủ các chủ đề chính trong vật lý nơtrino. Một đặc điểm độc đáo của trường phái nơtrino này là học sinh có cơ hội giao tiếp trực tiếp với các sinh viên và giảng viên khác trong suốt 12 ngày để làm việc với những vấn đề hiện tại đang phải đối mặt với lĩnh vực vật lý neutrino.

 

Người Việt ở nước ngoài kết nối Việt Nam với thế giới

Người Việt Nam ở nước ngoài đã làm cầu nối để đưa hàng hoá và văn hoá Việt Nam ra nước ngoài. Họ cũng đã quay trở về nước mang theo công nghệ hiện đại và đầu tư để góp phần vào sự phát triển của đất nước.

Hơn 500 người Việt kiều đến từ 36 quốc gia và vùng lãnh thổ đã hội tụ tại một cuộc họp gần đây tại thành phố Hồ Chí Minh. Qua gần 100 bài phát biểu về nhiều vấn đề, họ muốn chia sẻ ý kiến và đề xuất các biện pháp giúp Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh nắm bắt cơ hội và đối mặt với những thách thức.

Theo TS Nguyễn Trí Hiếu, một người Mỹ gốc Việt, người Việt Nam ở nước ngoài đã gặp phải một số trở ngại khi đầu tư vào Việt Nam. Một trong những trở ngại này liên quan đến pháp luật của nước sở tại. Theo ông, nhiều luật của Việt Nam vẫn gây khó khăn cho các nhà đầu tư gốc Việt do sự không tương thích với các quy định của quốc tế, đòi hỏi các nhà đầu tư phải thích ứng với một môi trường pháp lý tương đối khác so với ở các nước nơi họ sinh sống. Hơn nữa, sự thiếu minh bạch đã gây ra nhiều rủi ro cho môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Ông Hiếu cho biết, ông mong muốn có chính sách ngoại hối mở rộng hơn để áp dụng cho người Việt Nam ở nước ngoài.

Về tiềm năng phát triển và thu hút đầu tư của thành phố Hồ Chí Minh, Tochai Ningwatthana, một người Việt Nam sinh sống ở Thái Lan, tin rằng thành phố này hoàn toàn có khả năng đi trước nhiều thành phố khác trong khu vực ASEAN trong những thập niên tiếp theo nhờ những lợi thế như sự năng động của một thành phố trẻ, sự nhiệt tình của lãnh đạo, và sự ổn định chính trị. Chia sẻ ý kiến này, TS. Đinh Thanh Hương, một người Pháp gốc Việt, cho rằng với vị trí địa lý thuận lợi và lực lượng lao động trẻ, có tay nghề sẽ mang lại cho TP Hồ Chí Minh cơ hội lớn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, để tận dụng tối đa những lợi thế này, thành phố cần phải giải quyết triệt để các vấn đề còn tồn đọng tính đến thời điểm này như không đủ cơ sở hạ tầng, ùn tắc giao thông và lũ lụt nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. “Đã đến lúc thành phố mang tên Bác phải thay đổi để phát triển.

Thành phố sẽ trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế không chỉ của Việt Nam mà cả toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Mỗi doanh nghiệp cũng như từng tổ chức, cá nhân đều phải thấu hiểu được ý tưởng này. Các doanh nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh cần chủ động tìm kiếm cơ hội hợp tác hơn là chờ đợi sự hỗ trợ “, Tiến sĩ Hương nhấn mạnh.

Cầu nối trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Theo TS. Đinh Thanh Hương, hơn bốn triệu người Việt đang sinh sống tại nước ngoài muốn góp phần vào sự phát triển của đất nước và là cầu nối giữa nhà đầu tư nước ngoài và Việt Nam. “Chúng tôi muốn giúp Việt Nam và đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh để thu hút không chỉ vốn mà còn các công nghệ hiện đại và kiến thức tân tiến của các tập đoàn lớn trên toàn thế giới”, bà khẳng định.

Thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Nhiều người Việt Nam ở nước ngoài bày tỏ mong muốn đầu tư vào lĩnh vực này. Tony Lam, một người Mỹ gốc Việt, Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Tổng giám đốc tại Trang trại Mỹ, một công ty trách nhiệm hữu hạn nông nghiệp công nghệ cao, cho biết, “Việt Nam phải nhập khẩu một lượng lớn ngô và đậu nành từ Mỹ và một số nước khác trong khi điều kiện đất đai ở Việt Nam rất tốt cho những loại cây trồng này. Vì vậy, tôi muốn đầu tư trồng ngô kỹ thuật cao ở Việt Nam. ”

Giáo sư Nguyễn Lý Vũ Hải, một người Úc gốc Việt, đã đề nghị sử dụng công nghệ để giải quyết nạn ùn tắc giao thông ở thành phố Hồ Chí Minh, nơi có đông dân nhất Việt Nam. Ông nói về một hệ thống giao thông thông minh trị giá khoảng 2 tỷ USD đã giúp Amsterdam, thủ đô của Hà Lan, giảm ùn tắc giao thông xuống 30%. “Để phát triển một hệ thống giao thông như vậy , Việt Nam mất khoảng 1 tỷ đô la Mỹ. Chúng tôi đề cử hệ thống giao thông này không vì lợi nhuận mà là để bày tỏ tình yêu của chúng tôi đối với quê hương và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng “, giáo sư Hải nói.

Nhiều người Việt Nam ở nước ngoài chia sẻ ý kiến cho rằng Thành phố Hồ Chí Minh cần đưa ra các cơ chế và chính sách thích hợp để thúc đẩy nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Vũ Lê Hải, một người Úc gốc Việt khác, khuyên thành phố nên tìm kiếm những công nghệ mới từ các chuyên gia Việt kiều.

Hầu hết các Việt Kiều tin rằng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là rất quan trọng cho sự tăng trưởng bền vững của thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Đăng Bằng, giảng viên của Đại học Cambridge, nói rằng thành phố nên thành lập các trường đại học nghiên cứu để thu hút các nhà nghiên cứu và nhà đầu tư. “Các trường đại học như vậy sẽ cần đầu tư ban đầu từ ngân sách của thành phố, nhưng sau đó, các cơ chế phù hợp sẽ giúp họ tìm kiếm đầu tư từ các doanh nghiệp và các nhà đầu tư nước ngoài”, ông Bằng nói.

Theo ý kiến của Giáo sư Lê Vũ Hải, các chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài có thể mang về nước những công nghệ mới và phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam vì vậy thành phố nên mời họ làm việc tại Việt Nam hơn là thuê chuyên gia nước ngoài. “Các chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài có thể giúp thành phố phát triển công nghệ riêng của mình thay vì chờ đợi các công nghệ cũ từ các nhà đầu tư nước ngoài”, ông Hải nói.

Chúng tôi hy vọng những ý tưởng có giá trị này sẽ giúp ích cho những nỗ lực phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.

Người Việt Nam ở nước ngoài đã làm cầu nối để đưa hàng hoá và văn hoá Việt Nam ra nước ngoài. Họ cũng đã quay trở về nước mang theo công nghệ hiện đại và đầu tư để góp phần vào sự phát triển của đất nước.

Hơn 500 người Việt kiều đến từ 36 quốc gia và vùng lãnh thổ đã hội tụ tại một cuộc họp gần đây tại thành phố Hồ Chí Minh. Qua gần 100 bài phát biểu về nhiều vấn đề, họ muốn chia sẻ ý kiến và đề xuất các biện pháp giúp Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh nắm bắt cơ hội và đối mặt với những thách thức.

Theo TS Nguyễn Trí Hiếu, một người Mỹ gốc Việt, người Việt Nam ở nước ngoài đã gặp phải một số trở ngại khi đầu tư vào Việt Nam. Một trong những trở ngại này liên quan đến pháp luật của nước sở tại. Theo ông, nhiều luật của Việt Nam vẫn gây khó khăn cho các nhà đầu tư gốc Việt do sự không tương thích với các quy định của quốc tế, đòi hỏi các nhà đầu tư phải thích ứng với một môi trường pháp lý tương đối khác so với ở các nước nơi họ sinh sống. Hơn nữa, sự thiếu minh bạch đã gây ra nhiều rủi ro cho môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Ông Hiếu cho biết, ông mong muốn có chính sách ngoại hối mở rộng hơn để áp dụng cho người Việt Nam ở nước ngoài.

Về tiềm năng phát triển và thu hút đầu tư của thành phố Hồ Chí Minh, Tochai Ningwatthana, một người Việt Nam sinh sống ở Thái Lan, tin rằng thành phố này hoàn toàn có khả năng đi trước nhiều thành phố khác trong khu vực ASEAN trong những thập niên tiếp theo nhờ những lợi thế như sự năng động của một thành phố trẻ, sự nhiệt tình của lãnh đạo, và sự ổn định chính trị. Chia sẻ ý kiến này, TS. Đinh Thanh Hương, một người Pháp gốc Việt, cho rằng với vị trí địa lý thuận lợi và lực lượng lao động trẻ, có tay nghề sẽ mang lại cho TP Hồ Chí Minh cơ hội lớn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, để tận dụng tối đa những lợi thế này, thành phố cần phải giải quyết triệt để các vấn đề còn tồn đọng tính đến thời điểm này như không đủ cơ sở hạ tầng, ùn tắc giao thông và lũ lụt nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. “Đã đến lúc thành phố mang tên Bác phải thay đổi để phát triển.

Thành phố sẽ trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế không chỉ của Việt Nam mà cả toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Mỗi doanh nghiệp cũng như từng tổ chức, cá nhân đều phải thấu hiểu được ý tưởng này. Các doanh nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh cần chủ động tìm kiếm cơ hội hợp tác hơn là chờ đợi sự hỗ trợ “, Tiến sĩ Hương nhấn mạnh.

Cầu nối trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Theo TS. Đinh Thanh Hương, hơn bốn triệu người Việt đang sinh sống tại nước ngoài muốn góp phần vào sự phát triển của đất nước và là cầu nối giữa nhà đầu tư nước ngoài và Việt Nam. “Chúng tôi muốn giúp Việt Nam và đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh để thu hút không chỉ vốn mà còn các công nghệ hiện đại và kiến thức tân tiến của các tập đoàn lớn trên toàn thế giới”, bà khẳng định.

Thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Nhiều người Việt Nam ở nước ngoài bày tỏ mong muốn đầu tư vào lĩnh vực này. Tony Lam, một người Mỹ gốc Việt, Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Tổng giám đốc tại Trang trại Mỹ, một công ty trách nhiệm hữu hạn nông nghiệp công nghệ cao, cho biết, “Việt Nam phải nhập khẩu một lượng lớn ngô và đậu nành từ Mỹ và một số nước khác trong khi điều kiện đất đai ở Việt Nam rất tốt cho những loại cây trồng này. Vì vậy, tôi muốn đầu tư trồng ngô kỹ thuật cao ở Việt Nam. ”

Giáo sư Nguyễn Lý Vũ Hải, một người Úc gốc Việt, đã đề nghị sử dụng công nghệ để giải quyết nạn ùn tắc giao thông ở thành phố Hồ Chí Minh, nơi có đông dân nhất Việt Nam. Ông nói về một hệ thống giao thông thông minh trị giá khoảng 2 tỷ USD đã giúp Amsterdam, thủ đô của Hà Lan, giảm ùn tắc giao thông xuống 30%. “Để phát triển một hệ thống giao thông như vậy , Việt Nam mất khoảng 1 tỷ đô la Mỹ. Chúng tôi đề cử hệ thống giao thông này không vì lợi nhuận mà là để bày tỏ tình yêu của chúng tôi đối với quê hương và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng “, giáo sư Hải nói.

Nhiều người Việt Nam ở nước ngoài chia sẻ ý kiến cho rằng Thành phố Hồ Chí Minh cần đưa ra các cơ chế và chính sách thích hợp để thúc đẩy nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Vũ Lê Hải, một người Úc gốc Việt khác, khuyên thành phố nên tìm kiếm những công nghệ mới từ các chuyên gia Việt kiều.

Hầu hết các Việt Kiều tin rằng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là rất quan trọng cho sự tăng trưởng bền vững của thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Đăng Bằng, giảng viên của Đại học Cambridge, nói rằng thành phố nên thành lập các trường đại học nghiên cứu để thu hút các nhà nghiên cứu và nhà đầu tư. “Các trường đại học như vậy sẽ cần đầu tư ban đầu từ ngân sách của thành phố, nhưng sau đó, các cơ chế phù hợp sẽ giúp họ tìm kiếm đầu tư từ các doanh nghiệp và các nhà đầu tư nước ngoài”, ông Bằng nói.

Theo ý kiến của Giáo sư Lê Vũ Hải, các chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài có thể mang về nước những công nghệ mới và phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam vì vậy thành phố nên mời họ làm việc tại Việt Nam hơn là thuê chuyên gia nước ngoài. “Các chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài có thể giúp thành phố phát triển công nghệ riêng của mình thay vì chờ đợi các công nghệ cũ từ các nhà đầu tư nước ngoài”, ông Hải nói.

Chúng tôi hy vọng những ý tưởng có giá trị này sẽ giúp ích cho những nỗ lực phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.

Người Việt ở nước ngoài hỗ trợ nâng cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ gia đình

Với sự giúp đỡ của nữ bác sỹ Bùi Kim Hải, người Bỉ gốc Việt, nhiều chương trình tập trung vào sức khoẻ cộng đồng tại Việt Nam đã được chính phủ Bỉ tài trợ và các chương trình kiểm tra sức khỏe miễn phí của các bác sỹ Mỹ tại thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác.

Sinh ra ở tỉnh Vĩnh Long, Bác sỹ Hải rời Việt Nam để qua định cư tại Bỉ trước khi giải phóng miền Nam Việt Nam, bà sang học tại Đại học Liege và đã định cư ở đó gần 40 năm.

Trong khi làm việc rất uy tín với tư cách là bác sỹ gia đình, bà đại diện cho một số tổ chức từ thiện ở nước ngoài và thường xuyên trở về Việt Nam để giúp đỡ người nghèo.

Giáo sư Didier Giet, Trưởng khoa y dược tại Đại học Liege phát biểu tại hội thảo Việt Nam- Bỉ về các bác sỹ gia đình được tổ chức tại Thành phố Hò chí Minh: “Các quan chức cao cấp của chính phủ Việt Nam và Bỉ và các trường đại học khác nhau đều phải biết đến nhau qua sự kết nối của Bác Sỹ Hải”. Bác sĩ Hải đã được công nhận là một công dân danh dự của thành phố Hồ Chí Minh.

Từ năm 1989, bà đã trở về Việt Nam nhiều lần và đã vận động ngành y tế Bỉ cung cấp trang thiết bị cho bệnh viện Thái Nguyên cũng như nhiều chương trình hỗ trợ cho các địa phương khác ở Việt Nam.

Chương trình cấy ghép thận trị giá 300.000 Ơ Rô đã được chính phủ Bỉ cung cấp và hơn 50 bệnh nhân đã được điều trị. Một chương trình cấy ốc tai cho trẻ khiếm thính cũng được thực hiện thành công, mang lại hạnh phúc cho nhiều gia đình. Theo chương trình đào tạo do Đại học Liege tài trợ, hơn 50 bác sỹ Việt Nam đã có cơ hội học tập các phương pháp y học hiện đại tại Bỉ.

Các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ gia đình không đơn thuần là các bác sĩ sẽ đến thăm bệnh nhân tại nhà của họ để kiểm tra sức khỏa như chúng ta vẫn thường thấy ở Việt Nam. Đây là một hệ thống cho phép các bác sĩ được đào tạo thêm và trở thành những chuyên gia có giấy phép làm việc. Với sự giúp đỡ của bác sỹ Hải, Bộ Hợp tác Phát triển Bỉ đã đồng ý tài trợ cho một chương trình đào tạo cho các bác sĩ gia đình Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2012 với ngân sách hàng năm là 100.000 EURO. Dự án được thực hiên với mục đích tạo ra một dịch vụ chăm sóc sức khoẻ gia đình mới tại trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Bệnh viện 115 và Bệnh viện Nhân dân Gia Định.

Với khoản tiền tài trợ của Bác sỹ Hải, Mặt trận Tổ quốc huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã mua 200 món quà cho người nghèo. Cuối năm 2008, bà cùng với chị gái Bùi Kim Hà thành lập Quỹ cứu trợ toàn cầu của Phật giáo và Quỹ Sức khoẻ Toàn cầu Hoa Kỳ để giúp đỡ người nghèo ở Việt Nam.

“Hầu hết người Việt Nam ở nước ngoài đều muốn đóng góp một phần công sức và của cải cho sự phát triển quê hương”. Tiến sĩ Hải nói rằng “các thế hệ trẻ của người Việt ở nước ngoài đang đóng vai trò là cầu nối giữa Việt Nam và thế giới”.

Cơ hội và thách thức đối với người lao động Việt Nam trong cộng đồng ASEAN

Cộng đồng ASEAN (AC), dự kiến sẽ được thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm nay, sẽ tạo ra một thị trường độc nhất với việc tự do di chuyển vốn, hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và lao động có tay nghề, mang lại cơ hội và thách thức cho người lao động Việt Nam.

Theo báo cáo “Cộng đồng ASEAN: Quản lý hội nhập để tạo công ăn việc làm tốt hơn và chia sẻ sự thịnh vượng” do Tổ chức Lao động Quốc tế và Ngân hàng Phát triển Châu Á thực hiện, AC sẽ có tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 2.2 nghìn tỷ đô la mỗi khi định hình , Thu nhập bình quân đầu người là 3,100 đô la Mỹ / năm, nhưng con số này sẽ thay đổi đáng kể từ 1.000 đô la Mỹ ở Campuchia và Myanmar đến 50.000 đô la Mỹ ở Singapore.

Khoảng cách thu nhập đáng kể có thể dẫn đến việc di cư lao động trong khối ASEAN, mở ra những cơ hội mới cho người lao động có tay nghề nhưng vẫn đặt ra những thách thức đối với những người không có tay nghề.

Thông qua các hiệp ước công nhận lẫn nhau, các nước ASEAN đã cho phép nhân viên làm việc trong 8 ngành nghề (bác sĩ, nha sĩ, y tá, kế toán, khảo sát, kiến trúc sư, kỹ sư và chuyên gia du lịch) để tìm việc làm trong khối các nước ASEAN ngay sau khi AC được thành lập. Họ thuộc nhóm có trình độ cao và có trình độ chuyên môn từ trường đại học, thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh.

Thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) cho thấy nước ta sẽ là một trong những đối tượng hưởng lợi lớn nhất từ sự hình thành của AC. Đến năm 2025 sẽ có khoảng 6 triệu việc làm được cung cấp, chiếm 9,5% tổng số các lựa chọn việc làm mới của ASEAN. Tuy nhiên, chất lượng việc làm không cao và 65% nhân viên mới dễ bị rơi vào tình trạng khó khăn (tỷ lệ cao nhất trong khu vực)

Chất lượng lao động Việt Nam đủ điều kiện ra nước ngoài làm việc đã được cải thiện đáng kể khi tăng từ 30% lên 50% trong vòng mười năm, đáp ứng một số yêu cầu về lao động có tay nghề của thị trường lao động khu vực. Lực lượng lao động có kỹ thuật từng bước làm chủ được công nghệ khoa học mới. Một trong số họ có khả năng đáp ứng yêu cầu các công việc đòi hỏi kỹ năng cao mà trước đây chỉ được thực hiện bởi các chuyên gia nước ngoài. Việt Nam cũng đã tạo điều kiện để lao động trong nước đi làm việc tại các nước ASEAN khác, đặc biệt là Malaysia, hàng năm có hàng ngàn lao động đi xuất khẩu để làm việc trong nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau.

Việt Nam cũng đã tự khẳng định mình là đối thủ cạnh tranh hàng đầu tại các Cuộc thi Kỹ năng về ASEAN, xếp thứ nhất trong ba lần khác nhau trong 10 sự kiện được tổ chức và liên tục nằm trong số ba nước đứng đầu, thể hiện sự sẵn sàng của người dân địa phương tham gia Cộng đồng ASEAN.

Tuy nhiên, nước ta cũng phải đối mặt với một loạt các thách thức. Do nông nghiệp chiếm đa số trong nền kinh tế Việt Nam, tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động chính thức thấp, chỉ chiếm 30%. Thêm vào đó, kiến thức, kỹ năng và sự sẵn sàng làm việc của các nước ASEAN khác đã được coi là không phù hợp để đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập. Hầu như tất cả các công nhân trong lĩnh vực nông nghiệp đều không được đào tạo.

Ngân hàng Thế giới cho biết Việt Nam đang gặp phải tình trạng thiếu lao động có tay nghề và trình độ kỹ thuật trầm trọng và tụt hậu so với các nước phát triển trong khu vực về chất lượng nhân lực. Kiến thức, kỹ năng và sự sẵn sàng làm việc của người lao động địa phương ở các nước ASEAN khác đã được coi là không đầy đủ và không đáp ứng được nhu cầu hiện tại.

Để giải quyết những thách thức trên, chúng ta phải nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của lực lượng lao động Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế, nhất là khi thành lập AC, Việt Nam cần tiếp tục xem xét lại toàn bộ các quy định pháp luật về lao động, việc làm và đào tạo nghề, làm thực hiện các dự báo ngắn hạn và dài hạn, kết nối thị trường lao động trong nước với các đối tác trong cộng đồng ASEAN và tìm kiếm thị trường nước ngoài thích hợp cho người lao động.

Việt Nam nên cải cách cấu trúc giáo dục chuyên nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc gia; Tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng và đổi mới chương trình đào tạo nghề; Kết hợp đào tạo với thị trường lao động và sự tham gia của doanh nghiệp, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dạy nghề.

Các cơ quan nhà nước cần soạn thảo các biện pháp nhằm định hướng và hỗ trợ người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng, ngoại ngữ  và thông tin về các quốc gia họ sẽ làm việc để có thể nhanh chóng hội nhập và bắt nhịp vào xã hội và nơi làm việc tại địa phương.

 

 

Những phụ nữ gốc Việt đầy tài năng

Họ là những phụ nữ Việt Nam ở nước ngoài, những người nổi tiếng trên thế giới với tài năng nổi bật của họ.

“Vua đầu bếp Mỹ” Christine Hà

Christine Hà sinh năm 1979 và hiện đang sống và làm việc tại Bang Texas, Hoa Kỳ. Bố mẹ cô là người Việt Nam. Tên thật của cô là Hà Huyền Trân.

Christine đã mắc phải một căn bệnh hiếm gặp làm mất đi tầm nhìn của cô và cuối cùng, cô hoàn toàn bị mù vào năm 2007. Có bằng cử nhân về quản lý tài chính và thông tin từ Đại học Texas nhưng Christine không thể theo đuổi ước mơ của mình với nghề nghiệp mơ ước vì vấn đề về thị lực.

Với đam mê nấu ăn cuồng nhiệt , cô thiết lập một trang web để đăng công thức nấu ăn của mình. Trang web của Christine Ha nhanh chóng trở nên phổ biến trong cộng đồng những người thích nấu ăn ở Mỹ.

Christine Ha đã tham gia cuộc thi vua đầu bếp của Hoa Kỳ năm 2012 và đã vượt qua tất cả các thí sinh khác để giành chức vô địch.

Cho đến nay, cô vẫn là người mù duy nhất thi trong cuộc thi này. Năng lượng và sự lạc quan yêu đời của Christine Hà trong suốt cuộc thi khiến người xem truyền hình khắp thế giới cảm động.

Nghệ sĩ trang điểm Michelle Phan

Michelle Phan sinh năm 1987 hiện đang định cư tại Bang Florida, Hoa Kỳ. Cô là một Việt Kiều Mỹ- nghệ sĩ trang điểm nổi tiếng trên toàn thế giới. Con đường làm nên tên tuổi của Michelle Phan rất đơn giản: cô ấy đã làm video clip hướng dẫn các mẹo trang điểm và làm đẹp sau đó đăng chúng lên YouTube.

Các video clip của Michelle Phan có hàng triệu lượt xem. Mặc dù cô không phải là người nổi tiếng nhưng danh tiếng mà Michelle Phan kiếm được từ YouTube đã giúp cô trở thành khuôn mặt đại diện cho nhiều thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng ở Mỹ.

Michelle Phan đã ra mắt thương hiệu mỹ phẩm riêng của mình với một cái tên  EM (I) Michelle Phan – một cái tên mang đậm chất Việt Nam. Michelle Phan đã nhận được giải thưởng “New Star (Gương mặt triển vọng)” của tạp chí Daily Wear Daily Journal và có tên trong danh sách những người nổi tiếng hàng đầu thế giới dưới 30 tuổi của tạp chí Marie Claire.

Nhà thiết kế thời trang Nini Nguyễn

Nini Nguyễn sinh ra ở Việt Nam và sống ở đây chỉ vỏn vẹn sáu năm. Sau đó, cô đã đi Mỹ cùng cha mẹ. Khởi nghiệp ban đầu của Nini Nguyễn trên đất Mỹ không hề dễ dàng. Cô có niềm đam mê cháy bỏng đối với thời trang nhưng lại không giỏi tiếng Anh, Nini đã bị nhiều hãng thời trang từ chối.

Cô phải bắt đầu làm việc như một người dọn vệ sinh và sau đó là nhân viên cửa hàng thời trang. Bước ngoặt lớn nhất trong sự nghiệp của Nini là khi cô quyết định trở thành một nhà thiết kế thời trang.

Khách hàng của Nini Nguyễn bao gồm những ca sỹ, diễn viên nổi tiếng khắp thế giới – ca sĩ Rihanna là khách hàng đáng chú ý nhất đã gắn liền với tên tuổi của cô. Nini Nguyễn hiện là nhà thiết kế chính cho phong cách thời trang thời thượng và đầy ấn tượng của ca sĩ Barbados.

Nhiếp ảnh gia Lê Mỹ An

Nhiếp ảnh gia người Mỹ gốc Việt Lê Mỹ An đã nhận được học bổng MacArthur Fellowship – giải thưởng “thiên tài” của nước Mỹ. Đây là một giải thưởng có uy tín để tôn vinh những cá nhân có hoạt động sáng tạo xuất sắc, vinh danh sự cống hiến và những thành tựu ấn tượng của cá nhân đối với cộng đồng.

Lê Mỹ An được biết đến như là một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp về mảng chiến tranh. Đến Hoa Kỳ vào năm 1975, các tác phẩm của người phụ nữ 53 tuổi này chủ yếu lấy cảm hứng từ chiến tranh kể từ khi cô có những trải nghiệm về nó.

Một chủ đề quen thuộc trong tác phẩm của Lê Mỹ An là mối quan hệ giữa người Việt Nam định cư ở Mỹ và nỗi nhớ quê hương. An đã trở lại Việt Nam nhiều lần để chụp ảnh.

Nhà Văn Lại Thanh Hà

Thanh Hà sinh năm 1965 tại Việt Nam và tái định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1975. Bà lấy bằng của nhân chuyên ngành báo chí tại Đại học Texas; Lại Thanh Hà bắt đầu sự nghiệp viết lách của mình với tư cách là phóng viên của tờ The Register, chuyên về thông tin của cộng đồng người Việt tại quận Orange, California.

Nhờ công việc này kỹ năng viết tiếng Anh của Hà tiến bộ rất nhanh. Sau gần hai năm làm phóng viên, Hà quyết định rời khỏi tờ báo và bắt đầu tập trung vào việc viết lách.

Cuốn sách đầu tay của bà là một tác phẩm dành cho trẻ em được gọi là “Inside Out & Back Again” vào năm 2011. Cuốn sách này đã giành được giải thưởng sách quốc gia – một giải thưởng danh giá và uy tín hàng năm nhằm tôn vinh các tác phẩm văn học xuất sắc của các tác giả Mỹ.

 

Những Việt Kiều giàu có nhất thế giới

Ngày càng có nhiều người Việt Nam đang kinh doanh ở nước ngoài và nhiều người trong số họ đã trở thành những triệu phú tiền đô la Mỹ.

  1. Trần Đình Trường – Tỷ phú Việt Nam tại Mỹ

Doanh nhân Trần Đình Trường sinh ra tại mảnh đất Hà Tĩnh hiện đang sở hữu tài sản trị giá gần 1 tỷ đô la Mỹ, bao gồm một số khách sạn cao cấp ở New York, nổi bật nhất là khách sạn Carter ở Times Square.

Doanh nhân Trường là người đầu tiên tham gia vào lĩnh vực vận tải hàng hải trong một thời gian dài và sở hữu rất nhiều đội tàu bao gồm Trường Xuân, Trường Thanh, Bông Hồng 9, Sao Mai, Patrich, Trường Vinh, Trường Hải và Trường Sinh. Sau đó ông bắt đầu kinh doanh khách sạn ở New York với Opera, Carter và Lafayette Hotels.

Mặc dù luôn hang say với công việc, nhưng ông vẫn là một nhà hảo tâm của các dự án từ thiện và cố gắng giúp đỡ cộng đồng người Việt Nam có hoàn cảnh khó khăn hiện đang sinh sống ở Mỹ. Năm 2004, ông được vinh danh với giải thưởng Golden Torch Award ở Washington D.C.

Thật không may, ông Trường đã chết vào tháng 5 năm 2012, mà không được chứng kiến trung tâm thương mại của ông ở Philadelphia có tên “Việt Nam” gần đây.

  1. Nguyễn Văn Hiền – người Việt Nam giàu nhất ở Đức

Nguyễn Văn Hiền nổi tiếng ở Đức với những thành công của mình trong lĩnh vực kinh doanh, đặc biệt là đối với Trung tâm Thương mại Đồng Xuân ở Berlin.

Ông cũng đã đầu tư 30 triệu euro vào một dự án kinh tế và văn hoá khác ở quận Lichtenberg, Berlin, với hy vọng quảng bá và giới thiệu những nét tinh hoa của ẩm thực, văn hoá và truyền thống Việt Nam cho bạn bè Đức.

  1. Darunee – người Việt Nam giàu nhất ở Thái Lan

Darunee là một trong số ít người Thái có nguồn gốc Việt Nam đã vượt qua kỳ thi tuyển sinh đầu vào của Đại học Chulalongkorn, một trong những cơ sở giáo dục có uy tín nhất ở Thái Lan.

Sau khi kết hôn với một người đàn ông Thái Lan gốc Trung Quốc, cô và chồng bắt đầu sự nghiệp kinh doanh với việc làm đại lý cho công ty sản xuất hệ thống sưởi ấm và điều hòa không khí York của Mỹ và bảy năm sau hai vợ chồng bà thành lập công ty sản xuất máy điều hòa không khí mang tên công ty Senato.

Công ty Senato của Darunee hiện đang nằm trong danh sách những thương hiệu nổi tiếng ở Thái Lan về thiết bị điện dân dụng với tổng thu nhập hàng năm là 500 triệu bạt Thái. Công ty đã tạo việc làm cho hàng ngàn người dân Thái Lan trong đó có cả những người Việt Nam hiện đang sinh sống ở Thái.

Darunee và chồng cô cũng có cổ phần trong nhiều công ty sản xuất máy điều hòa không khí ở Thái Lan, và ở tuổi 57, bà có tên trong danh sách một trong những nữ doanh nhân thành công nhất ở Thái Lan.

  1. Chính Chu – một người Việt Nam nổi tiếng trên Phố Wall.

Chính Chu 44 tuổi – giám đốc điều hành của Tập đoàn Private Equity, tính đến thời điểm hiện tại tổng tài sản của vị đại gia này ước tính hơn 1 tỷ đô la Mỹ. Anh ấy hiện đang là vị hôn phu của ca sĩ Hà Phương.

 

 

Bác sĩ người Việt ở nước ngoài quan tâm đến tiếng Việt

Là một bác sĩ, ông Trần Kim Lân, sinh năm 1964 là thế hệ thứ ba của người Việt Nam ở nước ngoài sinh ra tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, có niềm say mê học tiếng Việt.

Năm 1979, ông là một trong những học sinh đầu tiên được Hiệp hội Người Việt ở nước ngoài tại tỉnh Savannakhet, Lào cử đi học ở trường THPT ở Thừa Thiên Huế.

Trong suốt những năm làm nghiên cứu sinh tại Huế, ông Trần Kim Lân liên tục phải chống chọi với căn bệnh sốt rét và sức khoẻ ông thời điểm đó rất yếu. May mắn thay, ông đã được các bác sĩ chữa trị thành công với các liệu pháp chữa trị của y học phương Đông. Trong thời gian này, ông Kim Lân đã học được cách chữa bệnh bằng  Đông y.

Với sự siêng năng và chăm chỉ, sau nhiều năm nghiên cứu, ông Trần Kim Lân đã có bằng tốt nghiệp bác sĩ Tây y và đã hiểu rõ hơn về y học phương Đông.

Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Tây y năm 1990, Bác sỹ. Lân quay về Savannakhet để mở phòng khám tư, kết hợp phương pháp điều trị Đông y và Tây y.

Bác sỹ Lân (người gốc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) đã làm việc với phương châm “đơn giản, hiệu quả” và chi phí khám và điều trị vừa phải phù hợp với khả năng của những bệnh nhân nghèo. Niềm vui lớn nhất của ông là có thể điều trị một số căn bệnh  như sốt rét, gan mãn tính, xơ gan, và phụ nữ khó sinh con.

Mỗi ngày được chứng kiến bệnh nhân của mình vượt qua những nguy hiểm và hồi phục lại căn bệnh của mình, bác sĩ Kim Lân cảm thấy có động lực và không ngừng học hỏi để có trách nhiệm hơn cho công việc của một người lương y.

(nguồn baoquocte.vn)

Bảo tồn và quảng bá tiếng Việt bằng cách viết từ điển

Không chỉ là bác sĩ tận tụy chăm sóc bệnh nhân, ông còn được biết đến như là một Việt Kiều nỗ lực bảo vệ và quảng bá tiếng Việt trong cộng đồng người Việt tại Lào. Khi con của ông còn nhỏ, Ngoài việc điều trị y tế, ông Kim Lân cũng chịu trách nhiệm giảng dạy con mình. Con của ông hiểu tiếng Việt, nhưng chỉ những từ đơn giản trong giao tiếp hàng ngày. Lo ngại về con cháu Việt Nam sinh ra ở Lào không còn nói được tiếng mẹ đẻ đã khiến ông trăn trở nhiều đêm.

Nhận thức được ngôn ngữ Việt Nam đa dạng và giàu trí tưởng tượng, và mong muốn con cháu không quên tiếng mẹ đẻ, ông  đã quyết định viết từ điển Việt – Lào.

Trên thực tế, ông bắt đầu viết các từ điển khi đang học tại trường đại học y khoa, nhưng do thời gian hạn chế, kinh tế khó khăn, và một vài cuốn sách tham khảo, ông đã phải từ bỏ ý định viết từ điển.

Năm 1997, sau khi gom đủ tiền để mua máy vi tính, bác sĩ đã quyết định làm một cái gì đó để hỗ trợ cho việc học tiếng Việt trở nên hiệu quả hơn. Lần này, ông quyết tâm biên soạn từ điển Lào – Việt và Việt – Lào một cách có hệ thống.

Ông nói rằng biên dịch từ điển mang lại nhiều khó khăn, và ông đã phải đối mặt với những lời chỉ trích khiến ông thất vọng. Nhưng ông  đã vượt qua và viết lại.

Trong quá trình biên soạn, ông đã tư vấn cách viết một cuốn từ điển của một số tác giả và nhà xuất bản. Từ khi đọc rất nhiều sách báo, tích lũy kinh nghiệm tìm kiếm các lớp học từ năm 2003, ông đã hoàn thành hai bộ từ điển Lào-Việt và Việt-Lào, và sách của các câu tục ngữ Lào-Việt-Lào và các từ đồng nghĩa Lào-Việt. Tất cả những cuốn sách này đều được Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào cấp phép lưu hành, nhưng cho đến nay, nhà xuất bản mới chỉ xuất bản được từ điển Lào-Việt.

Cho đến năm 2006, đã có một chương trình hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo của hai nước, Tiến sĩ Trần Kim Lân đã được chính thức được mời viết từ điển Việt – Lào. Lời mời dường như tiếp thêm động lực cho ông để chuyên tâm nghiên cứu, bảo tồn và quảng bá tiếng Việt trong số những người Việt đang sinh sống ở Lào.

Theo dự định đến hết năm 2017, Bác sỹ. Trần Kim Lân sẽ cho xuất bản 2.000 cuốn từ điển Việt – Lào, cũng như phát hành bản chỉnh sửa từ điển Lào – Việt. Đây là một nguồn thông tin rất hữu ích cho người Việt Nam đang học tập và nghiên cứu tại Lào, cũng như người Lào muốn nghiên cứu và học hỏi về ngôn ngữ  đa dạng của Việt Nam.

 

Người Việt Nam ở nước ngoài – nguồn lực tiềm năng đáng kể

Theo số liệu thống kê không chính thức, hiện có gần ba triệu người Việt kiều sinh sống và làm việc tại 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Hầu hết họ đều được đào tạo bài bản, có trình độ cao và có kinh nghiệm, thể hiện tiềm năng đáng kể cho sự phát triển của Việt Nam.

Một cộng đồng thành công

Mặc dù cộng đồng người Việt ở Pháp, bao gồm hơn 300.000 người, không phải là lớn nhất, nó khá nổi bật với nhiều cá nhân thành công, những người đã đánh dấu tên tuổi của mình trong đời sống kinh tế-xã hội và chính trị của Pháp. Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, có 50.000 chuyên gia và kỹ sư người Việt Nam, trong đó có các nhà khoa học nổi tiếng như GS Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Hãn, và Bùi Huy Dương – nhà khoa học duy nhất của Việt Nam tại Học viện Khoa học Pháp, Cũng như giáo sư thiên văn học Tiến sĩ Nguyễn Quang Riệu, chuyên gia về âm nhạc, TS. Trần Văn Giàu và giáo sư Toán học Ngô Bảo Châu.

Để có thể đứng vững và phát triển trong một xã hội cạnh tranh như vậy, các Kiều bào Việt Nam ở Pháp không chỉ thông minh và chăm chỉ, mà còn phải tích lũy nhiều kinh nghiệm sống mới và có cách ứng xử văn minh. Tinh thần làm việc siêng năng và chịu khó tiếp thu học hỏi là chìa khóa thành công trong việc học tập và sự nghiệp của họ.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Người Việt tại Pháp, Therese Kỳ, công cuộc hội nhập của cộng đồng người Việt ở Pháp và những đóng góp của họ trong việc thúc đẩy tình hữu nghị Pháp – Việt đã được đánh giá cao tại một cuộc họp giữa đại diện của cộng đồng người Việt tại Pháp và Bộ Nội vụ và Nhập cư Pháp.

Luôn luôn hướng về quê hương

Nhờ địa vị xã hội, kinh nghiệm chuyên môn và mối quan hệ gần gũi với các bộ, ngành và cá nhân xuất sắc ở đất nước mình đang sinh sống, cộng đồng người Việt tại Pháp đã đẩy mạnh các sáng kiến thiết thực và có nhiều đóng góp thiết thực cho sự phát triển của Tổ quốc.

Tại Thụy Sĩ, cái tên Nguyễn Thành Đông gắn liền với chuỗi nhà hàng thành công ở thành phố Luzern và Ông Đông đã trở thành một tấm gương sáng về sự siêng năng và sáng tạo. Ông cũng giới thiệu công nghệ hiện đại của Thụy Sĩ trong lĩnh vực khai thác và sản xuất các thức uống bổ sung năng lượng cho Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả và giảm ô nhiễm môi trường.

Giáo sư Trần Thanh Vân, một trí thức Việt Nam nổi tiếng tại Pháp, đã tổ chức cuộc họp thường niên lần thứ 23 hội tụ các bác sĩ hàng đầu thế giới, trong đó có nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel tại thành phố Blois. Giáo sư Vân cũng đã tổ chức thành công cuộc họp các bác sĩ và các nhà khoa học trẻ Việt Nam để gặp gỡ, nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm với một số nhà khoa học hàng đầu trên thế giới.

Việc thành lập Hiệp hội các nhà khoa học và chuyên gia Việt Nam (AVSE) tháng 5 năm 2011 đã giác ngộ ý tưởng kết nối các chuyên gia Việt Nam và các nhà khoa học Pháp để phục vụ tổ quốc. Chủ tịch AVSE, PGS TS Nguyễn Đức Khương, là một giảng viên 33 tuổi tại Trường Quản lý ISC Paris, người được ngưỡng mộ vì sự siêng năng và sáng tạo của ông. Ông nói rằng AVSE sẽ liên kết các nhà khoa học Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực của đời sống để giúp đỡ sự phát triển của Tổ quốc bằng cách rà soát và tư vấn cho các dự án cũng như đánh giá tính khả thi và hiệu quả của kế hoạch hành động.

Giáo sư và Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhan thuộc Viện Công nghệ Grenoble cho biết: “Tôi muốn cống hiến và chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức mình đã tích lũy được trong nửa thế kỷ qua mà tôi đã nghiên cứu và giảng dạy tại Pháp để bày tỏ lòng biết ơn đối với quê hương tôi nơi tôi sinh ra và lớn lên. .

Thông qua các cuộc gặp với các đại diện Việt Nam ở nước ngoài, rõ ràng họ muốn đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam, do đó chúng ta cần có những chính sách ưu đãi và đãi ngộ hợp lý  để giúp họ thực hiện được nguyện vọng của mình vì sự phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập.

Người Việt Nam ở nước ngoài – nguồn lực tiềm năng đáng kể

Theo số liệu thống kê không chính thức, hiện có gần ba triệu người Việt kiều sinh sống và làm việc tại 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Hầu hết họ đều được đào tạo bài bản, có trình độ cao và có kinh nghiệm, thể hiện tiềm năng đáng kể cho sự phát triển của Việt Nam.

 Một cộng đồng thành công

Mặc dù cộng đồng người Việt ở Pháp, bao gồm hơn 300.000 người, không phải là lớn nhất, nó khá nổi bật với nhiều cá nhân thành công, những người đã đánh dấu tên tuổi của mình trong đời sống kinh tế-xã hội và chính trị của Pháp. Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, có 50.000 chuyên gia và kỹ sư người Việt Nam, trong đó có các nhà khoa học nổi tiếng như GS Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Hãn, và Bùi Huy Dương – nhà khoa học duy nhất của Việt Nam tại Học viện Khoa học Pháp, Cũng như giáo sư thiên văn học Tiến sĩ Nguyễn Quang Riệu, chuyên gia về âm nhạc, TS. Trần Văn Giàu và giáo sư Toán học Ngô Bảo Châu.

Để có thể đứng vững và phát triển trong một xã hội cạnh tranh như vậy, các Kiều bào Việt Nam ở Pháp không chỉ thông minh và chăm chỉ, mà còn phải tích lũy nhiều kinh nghiệm sống mới và có cách ứng xử văn minh. Tinh thần làm việc siêng năng và chịu khó tiếp thu học hỏi là chìa khóa thành công trong việc học tập và sự nghiệp của họ.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Người Việt tại Pháp, Therese Kỳ, công cuộc hội nhập của cộng đồng người Việt ở Pháp và những đóng góp của họ trong việc thúc đẩy tình hữu nghị Pháp – Việt đã được đánh giá cao tại một cuộc họp giữa đại diện của cộng đồng người Việt tại Pháp và Bộ Nội vụ và Nhập cư Pháp.

Luôn luôn hướng về quê hương

Nhờ địa vị xã hội, kinh nghiệm chuyên môn và mối quan hệ gần gũi với các bộ, ngành và cá nhân xuất sắc ở đất nước mình đang sinh sống, cộng đồng người Việt tại Pháp đã đẩy mạnh các sáng kiến thiết thực và có nhiều đóng góp thiết thực cho sự phát triển của Tổ quốc.

Tại Thụy Sĩ, cái tên Nguyễn Thành Đông gắn liền với chuỗi nhà hàng thành công ở thành phố Luzern và Ông Đông đã trở thành một tấm gương sáng về sự siêng năng và sáng tạo. Ông cũng giới thiệu công nghệ hiện đại của Thụy Sĩ trong lĩnh vực khai thác và sản xuất các thức uống bổ sung năng lượng cho Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả và giảm ô nhiễm môi trường.

Giáo sư Trần Thanh Vân, một trí thức Việt Nam nổi tiếng tại Pháp, đã tổ chức cuộc họp thường niên lần thứ 23 hội tụ các bác sĩ hàng đầu thế giới, trong đó có nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel tại thành phố Blois. Giáo sư Vân cũng đã tổ chức thành công cuộc họp các bác sĩ và các nhà khoa học trẻ Việt Nam để gặp gỡ, nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm với một số nhà khoa học hàng đầu trên thế giới.

Việc thành lập Hiệp hội các nhà khoa học và chuyên gia Việt Nam (AVSE) tháng 5 năm 2011 đã giác ngộ ý tưởng kết nối các chuyên gia Việt Nam và các nhà khoa học Pháp để phục vụ tổ quốc. Chủ tịch AVSE, PGS TS Nguyễn Đức Khương, là một giảng viên 33 tuổi tại Trường Quản lý ISC Paris, người được ngưỡng mộ vì sự siêng năng và sáng tạo của ông. Ông nói rằng AVSE sẽ liên kết các nhà khoa học Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực của đời sống để giúp đỡ sự phát triển của Tổ quốc bằng cách rà soát và tư vấn cho các dự án cũng như đánh giá tính khả thi và hiệu quả của kế hoạch hành động.

Giáo sư và Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhan thuộc Viện Công nghệ Grenoble cho biết: “Tôi muốn cống hiến và chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức mình đã tích lũy được trong nửa thế kỷ qua mà tôi đã nghiên cứu và giảng dạy tại Pháp để bày tỏ lòng biết ơn đối với quê hương tôi nơi tôi sinh ra và lớn lên. .

Thông qua các cuộc gặp với các đại diện Việt Nam ở nước ngoài, rõ ràng họ muốn đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam, do đó chúng ta cần có những chính sách ưu đãi và đãi ngộ hợp lý  để giúp họ thực hiện được nguyện vọng của mình vì sự phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập.