Monthly Archives: Tháng Chín 2017

Những đạo diễn phim đời sống đến từ Việt Nam

Mặc dù ngành công nghiệp điện ảnh của Việt Nam là một người khởi đầu muộn, đất nước này lại sản sinh ra một số đạo diễn tài năng trong thời hiện đại. Đây là năm trong số họ.

Các đạo diễn dưới đây được gọi là “Việt Kiều”, có nghĩa là “Người Việt Nam ở nước ngoài”, một thuật ngữ thường được sử dụng để mô tả những người rời đất nước để sinh sống và làm việc tại nước ngoài.

Đặng Nhật Minh

Đặng Nhật Minh, người sinh ra ở Huế năm 1938, được coi là một trong những đạo diễn phim hàng đầu của Việt Nam. Sau khi dành kế hoạch đi theo con đường sự nghiệp của cha mình và trở thành một bác sĩ, ông bắt đầu làm phim tài liệu vào năm 1965, trong Chiến tranh Việt Nam, và chuyển thể vào các bộ phim năm 1975.

Minh đến Pháp để học điện ảnh năm 1985. Những bộ phim về những gì ông được chứng kiến đã ảnh hưởng đến ông rất nhiều, và ông được trích dẫn khi nói rằng họ “hãy cho tôi thực phẩm để suy nghĩa về tương lại trong sự nghiệp làm phim, làm tôi suy nghĩ lại những đặc điểm và truyền thống của Việt Nam”. Anh trở về Việt Nam năm đó để làm bộ phim When the Tenth Month Comes (Bao Giờ Cho Đến Tháng Mười).

Nhiều bộ phim của Hùng lấy bối cảnh tại các làng nông nghiệp, phù hợp với mong muốn miêu tả cuộc sống của các ao làng tại nông thôn Việt Nam và cuộc sống của họ khác với những người giàu có. Các bộ phim của Hùng đã phát triển theo một hướng quốc tế kéo theo sự miêu tả sắc thái của họ về các vấn đề xã hội.

Năm 1999, ông trở thành người đầu tiên đến từ Việt Nam được giới thiệu về Giải Nobel Văn hoá Châu Á.

Trần Anh Hùng

Trần Anh Hùng được coi là người tiên phong của điện ảnh Việt Kiều. Sinh ra ở Đà Nẵng, mảnh đất miền Trung Việt Nam, năm 1962, ông là một đạo diễn phim người Pháp gốc Việt. Lần đầu tiên ông chuyển tới Pháp khi ông 12 tuổi là năm 1975.

Những thiền định về cuộc sống của Hùng ở Việt Nam đã được hoan nghênh khắp thế giới. Bộ phim đầu tiên của anh, The Scent of the Green Papaya – Mùi Đu Dủ xanh (1993), lấy bối cảnh ở Việt Nam mặc dù hoàn toàn được đóng máy trên một sân khấu âm thanh ở Boulogne, Pháp.

Nó kể về câu chuyện của Mùi, một người hầu cho một gia đình giàu có, và được trình chiếu vào năm 1951. Mùi được giải nghĩa như là hiện thân của Việt Nam thời kỳ trước chiến tranh, và được miêu tả như là hòa bình, sự bình tĩnh, và tò mò về thế giới. Nó đã giành được giải Camera d’Or tại Liên hoan Phim Cannes năm 1993 và trở thành bộ phim Việt Nam đầu tiên được đề cử giải Oscar năm 1994.

Bộ phim tiếp theo của Hùng, Cycle (1995), có một nhân vật chính vô tội tương tự, nhưng lần này câu chuyện lại bạo lực hơn và anh hùng trẻ tuổi bị các băng nhóm tham nhũng lôi kéo bởi mong muốn thoát nghèo. Cyclo đặc biệt đã nhận được sự hoan nghênh của bạn bè quốc tế, đoạt giải Sư tử Vàng tại liên hoan phim Venice.

Bộ phim cuối cùng trong bộ phim “Bộ ba thảm kịch Việt Nam” của Hùng là The Vertical Ray of the Sun (2000). Nó tập trung vào ba chị em sống ở Hà Nội và là một cái nhìn nhẹ nhàng, chậm rãi trong một tháng trong cuộc sống gia đình phức tạp của họ.

Tony Bùi

Tony Bùi sinh ra ở Việt Nam vào năm 1973. Anh rời khỏi Việt Nam cùng fia đình khi mới vừa lên hai. Anh sinh sống và làm việc tại California, và đã đến Việt Nam nhiều lần trước khi thực hiện bộ phim ngắn đầu tiên của mình, Yellow Lotus -Bông Sen Vàng (1995), đã giành được một loạt các giải thưởng trong nước và quốc tế.

Bui’s Three Seasons- Ba mùa của Bùi (1999), bộ phim Mỹ đầu tiên được quay hoàn toàn ở Việt Nam, đã giành giải thưởng Audience Award- bộ phim được khán giả yêu thích và giải Grand Jury tại liên hoan phim Sundance. Nó phản ánh những cảm nghĩ của Bùi về những thay đổi đã diễn ra đối với Việt Nam và người dân Việt Nam theo sự phương Tây hóa.

Bộ phim làm theo ba người ở thành phố Hồ Chí Minh và cho thấy những cách mà những cuộc đời này xen vào nhau. Nhân vật chính đầu tiên là một tay đua tên là Hải, người đã yêu một cô gái mại dâm tên là Lan. Câu chuyện thứ hai là về một cô bé mồ côi, Kiên An, người kết bạn với một nhà thơ với bệnh phong và rất tâm huyết viết bài thơ cho ông.

Câu chuyện thứ ba liên quan đến một chàng trai năm tuổi Woody, người dũng cảm để bán đồ trang trí cho khách du lịch để kiếm tiền cần thiết để tồn tại. Các bộ phim cho thấy sự cam kết của đạo diễn về miêu tả những thành viên bị gạt ra ngoài lề của một xã hội Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng, một điều mà ông đã nhận được sự hoan nghênh rộng rãi.

Võ Minh Nguyên

Không giống như nhiều đạo diễn người Việt, Minh Nguyễn-Võ đã tránh tập trung vào các đề tài chiến tranh trong phim của mình. Khi còn là thanh niên, ông coi điện ảnh là một lối thoát khỏi những đau khổ của cuộc xung đột. “Trong chiến tranh Việt Nam,” ông nhớ lại, “Tôi lớn lên ở một thị trấn nhỏ, nơi gia đình tôi điều hành rạp hát. Tôi có thể lẻn vào và xem phim. Có rất nhiều trận chiến đấu xung quanh thị trấn giữa người Mỹ và Cộng sản. Phim ảnh là sự thoát khỏi sự tàn ác của chiến tranh, và một cửa sổ để mở ra phần còn lại của thế giới. ”

Sinh năm 1956, ông đã trải qua 16 năm làm nhà vật lý tại Đại học California trước khi nghiên cứu điện ảnh ở đó. Nhờ những tác phẩm sử thi của samurai Nhật Bản, những người Mỹ phương Tây, và những bộ phim truyền hình được thực hiện ở Ấn Độ, Nguyễn Võ đã sử dụng những hình ảnh đẹp để chống lại những khía cạnh hãi hùng của cuộc sống.

Ông quay Buffalo Boy- Mục đồng (2004) ở vùng đồng bằng bị ngập lụt của miền Nam Việt Nam.

Ông nói: “Tôi bị ảnh hưởng bởi khí hậu đặc biệt của khu vực này, nơi mà nước bao phủ quanh năm. “Sự sống sót trở nên rất khó khăn, và các gia đình phải gửi trâu ở nơi khác để tìm cỏ. Có một điều kỳ diệu về việc nhìn thấy nước che phủ các vùng đất, sau này trở thành ruộng lúa xanh ngát. “Cảnh quan này là bối cảnh cho một bộ phim gia đình hỗn loạn liên quan đến những cuộc đối đầu giữa những người chăm sóc vật nuôi.

Bộ phim năm 2014 của Nguyễn Võ năm 2030 (Nước) là bộ phim tình cảm khoa học viễn tưởng ở miền Nam Việt Nam, nơi mà phần lớn đất bị ngập do hệ quả của sự nóng lên toàn cầu.

Lưu Huỳnh

Sinh ra ở Thành phố Hồ Chí Minh, Lưu Huynh rời trường lúc 16 tuổi để theo đuổi sự nghiệp làm phim tại Đại học Minnesota. Sau đó, ông chuyển đến California, nơi ông theo học tại Trường Cao Đẳng Nghệ thuật và Thiết kế Nghệ thuật. Ông trở về Việt Nam năm 1994,

Ông lần đầu tiên làm đạo diễn cho chương trình truyền hình nổi tiếng của Việt Nam – Paris by Night.

Bộ phim The White Silk Dress (Áo lụa Hà Đông) năm 2006 của ông là một trong những phim đắt tiền nhất của Việt Nam từng được thực hiện và thành công nhất của ông. Đại diện cho Việt Nam tại Giải thưởng Học viện lần thứ 80 trong hạng mục Phim tiếng nước ngoài hay nhất và đã giành nhiều giải thưởng danh giá khác. Bộ phim The Legend is Alive – Truyền thuyết là có thật (2009) đã nhận được sáu giải tại liên hoan phim Cánh diều vàng.